Thuốc Mitoxantrone – Mitoxgen | Bác Sĩ Thông Thái

Thuốc Mitoxgen là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Mitoxgen (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

Hoạt chất : Mitozantrone (Mitoxantrone)

Phân loại: Thuốc chống ung thư. Kháng sinh gây độc tế bào

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01DB07.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Mitoxgen

Hãng sản xuất : Bioprofarma S.A.

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha tiêm 20mg/10ml.

Thuốc tham khảo:

MITOXGEN 20mg
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Mitozantrone………………………….2 mg
Tá dược………………………….vừa đủ (Xem mục 6.1)

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

4.1. Chỉ định:

Mitoxgen phối hợp với corticosteroid để chỉ định ban đầu điều trị cho bệnh nhân đau do liên quan tới ung thư tiền liệt tuyến kháng hormon giai đoạn muộn.

Mitloxgan phối hợp với các hoạt chất đã được phê chuẩn khác được chỉ định trong liệu pháp ban đầu điều trị bạch cầu cấp không thuộc dòng lympho (ANLL) ở người trưởng thành. Những loại này bao gồm bạch cầu cấp thể tủy xương, tiền tủy bào, bạch cầu đơn nhân to, và thể dòng hồng cầu.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

CẢNH BÁO

Nên dùng Mitoxgen (Mitoxantron hydroclorid truyền) cẩn thận dưới sự theo dõi của bác sỹ có kinh nghiệm dùng hoá trị liệu ung thư. Ngoại trừ điều trị bệnh bạch cầu cấp thể không lympho, Mitoxgen không nên dùng cho bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính ít hơn 1500 tế bào/mm2. Để kiểm tra dấu hiệu suy tủy xương biểu hiện chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính. điều này có thể trầm trọng và dẫn tới nhiễm trùng. phải kiểm tra công thức máu thường xuyên ở tất cả bệnh nhân điều trị với Mitoxgen

Chuẩn bị dung dịch tiêm truyền:

Mitoxgen phải được pha loãng trước khi dùng.

Phải kiểm tra bằng mắt thường để phát hiện chất lạ và màu sắc dung dịch trước khi dùng.

Liều Mitoxgan nên được pha loãng trong ít nhất 50 ml NaCl 0,9% hoặc dung dịch Dextrose 5% trong nước, saline chuẩn hoặc Dextrose 5% với salina chuẩn và dùng ngay lập tức.

Mitoxgen không nên trộn lẫn trong củng một dung dịch tiêm như heparin vì có thể hình thành kết tủa. Bởi vị dữ liệu tương tác đặc biệt, Mitoxgan không được trộn lẫn với dung dịch tiêm truyền của thuốc khác. Dung dịch hoà tan nên được đưa chậm vào ống để tiêm truyền với dung dịch NaCl 0,9% hoặc dung dịch Dextrose 5% trong khoảng thời gian không ít hơn 3 phút. Dung dịch tiềm truyền không được sử dụng phải được loại bỏ ngay lập tức.

Nếu sự tràn máu xảy ra nên ngừng ngay lập tức chỉ định và bắt đầu ở một tĩnh mạch khác. Độc tính gây rộp da của Mitoxantron là nhỏ trong các phản ứng dị ứng nặng theo sau sự tràn máu ra ngoài mạch. Tuy nhiền nên cẩn thận tránh sự tràn mạch ở những điểm tiêm truyền và tránh tiếp xúc với itraconazol với da, màng nhày hoặc mắt. Khi xảy ra tai biến Mitoxgan với da nên cọ rửa bằng nhiều nước ấm và nếu mắt bị nhiễm thì nên dùng kỹ thuật cọ rửa ngay lập tức. Trong quá trình pha chế và chỉ định thuốc nên dùng kính bảo hộ, găng tay, áo choàng bảo vệ. Một số quy tắc chủ đạo phải được in trên thuốc.

Liều dùng:

Ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon: Dựa trên dữ liệu từ 2 pha III trong thử nghiêm so sánh của Miloxantron + corticosteroid với corticosteroid một mình, liều chỉ định của Mitoxantron từ 12 đến 14 mg/m2 được tiêm truyền tĩnh mạch ngắn (từ 5 đến 15 phút), 21 ngày 1 lần.

Kết hợp điều trị ban đầu cho ANLL ở người trưởng thành: Chỉ định Mitoxgen tiềm truyền tĩnh mạch ngắn với liều 12 mg/m2/ngày trong 3 ngày, phối hợp với cytarabin truyền tĩnh mạch liên tục 24 giờ với liều 100 mg/m2/ngày trong 7 ngày.

Nếu bệnh thuyên giảm tiến hành điều trị theo liệu trình ban đầu. Trong trường hợp phản ứng kháng bạch cầu không hoàn toàn, khuyến cáo điều trị thao cách thứ hai: Dùng mitoxantron trong 2 ngày và cylarabin trong 5 ngày với mức liều hàng ngày giống nhau. Duy trì cách điều trị thứ hai nếu trong giai đoạn điều trị đầu tiên có các tác dụng không mong muốn nặng hoặc độc tính ngoài hệ thống máu đe doạ đến tính mạng trừ khi có độc tính rõ ràng.

Điều trị củng cố đã được sử dụng trong hai thử nghiệm đa trung tâm lớn, ngẫu nhiên, mitoxantron được tiêm truyền tĩnh mạch ngắn với liều 12 mg/m2/ngày trong 2 ngày, phối hợp với cytarabin ngày truyền liên lục 24 giờ với liều 100 mg/m2 trong 5 ngày. Hướng đầu tiên được điều trị xấp xỉ 6 tuần, hướng thứ 2 nói chung được chỉ định trong 4 tuần sau hướng đầu tiên. Suy tuỷ nặng có thể xảy ra

Suy gan: Với bệnh nhân suy giảm chức năng gan hiện tại chưa có phương pháp nào hướng dẫn điều chỉnh liều.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định dùng thuốc cho những bệnh nhân trước đó có tiền sử mẫn cảm với thuốc.

4.4 Thận trọng:

Dùng Mitoxgen ở liều chỉ định để điều trị bệnh bạch cầu, suy tuỷ nặng sẽ xảy ra. Bởi vậy, khuyến cáo Mitoxgen chỉ được chỉ định bởi các thầy thuốc có kinh nghiệm trong quá trình trị liệu của bệnh nảy. Phòng bệnh và dịch vụ cung cấp phải sẵn sàng có máu và hoá chất điều trị thích hợp và điều trị hỗ trợ, bao gồm các kháng sinh. Máu và các sản phẩm máu phải được cung cấp cho bệnh nhân trong suốt giai đoạn chờ phục hồi tủy xương và suy tuỷ xương nặng. Nên chăm sóc bệnh nhân đặc biệt để đảm bảo phục hồi máu đầy đủ trước khi trải qua điều trị củng cố (nếu dùng điều trị này) và các bệnh nhân nên được kiểm tra trong suốt quá trình điều trị . Những bệnh nhân trước đây đã bị suy tuỷ xương không nên dùng Mitoxgen trừ khi có lợi ích trong điều trị với những nguy hiểm của suy tuỷ xương sau này.

Độ an toàn của mitoxantron trên bệnh nhân suy gan chưa được xác định.

Phụ nữ có thai

Mitoxantron có thể gây tổn hại bào thai khi chỉ định cho phụ nữ đang mang thai. Khi điều trị trên chuột cống ở liều = 0,1 mg/kg (gấp 0. 05 lần so với liều chỉ định ở người dựa trên a mg/m2). trọng lượng thai giảm và thận của thai chậm phát triển lớn hơn mức bình thường. Điều trị trên thỏ ở liều = 0,01 mg/kg (gấp 0.01 lần so với liểu điều trị ở người dựa trên a mg/m2) làm tăng tỷ lệ chết yểu sau khi sinh. Mitoxantron không gây quái thai ở thỏ. Chưa có nghiên cứu đầy đủ và kiểm tra rõ ràng ở phụ nữ có thai. Nếu thuốc này được dùng trong thời kỳ có thai, hoặc nếu bệnh nhân trở nên có thai khi đang dùng thuốc, bệnh nhân nên được báo về những nguy hiểm tiềm tàng đối với bào thai. Những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên tránh có thai khi đang dùng thuốc.

Mitoxantron ức chế Topoisomerase M, khi kết hợp với các tác nhân chống ung thư khác làm phát triển bệnh bạch cầu cấp.

Tim mạch

Bởi vì có thể nguy hiểm ảnh hưởng trên tim ở những bệnh nhân trước đây điều trị daunorubicin hoặc doxorubicin B, tỷ lệ lợi ích/nguy cơ khi điều trị mitoxantron trong những bệnh nhân này nên được xác định trước khi điều trị.

Trường hợp chung

Thay đổi chức năng tim bao gồm giảm sự phân bố máu ở tâm thất trái và suy tim so sung huyết có thể xảy ra với mitoxantron. Độc tính với tim thường xảy ra thường xuyên hơn với những bệnh nhân trước đây điều trị bằng anthracyclines, dùng xạ trị trung thất, hoặc bị bệnh mạch vành. Những bệnh nhân như vậy nên được kiểm tra tim mạch thường lệ (LVEF) từ khi bắt đầu điều trị. Trong những thử nghiệm điều tra của liều đơn gián đoạn trong các type u khác nhau, các bệnh nhân dùng tăng liều tích lũy 140 mg/ m2 có 2,6% suy tim sung huyết trên lâm sàng. Toàn bộ mức độ tích lũy vừa phải hoặc nghiêm trọng trong LVEF ở liều này là 13% so với các thử nghiệm.

Bệnh bạch cầu cấp

Suy tim sung huyết cấp có thể thỉnh thoảng xảy ra ở những bệnh nhân điều trị bằng mitoxantron cho ANLL. Trong những thử nghiệm so sánh lần đầu của mitoxantron + cytarabin vs., daunorubin + cytarabin ở những bệnh nhân trưởng thành trước đây chưa được điều trị ANLL, liệu pháp điều trị có liên quan đến suy tim sung huyết ở 6,5% của bệnh nhân trên mỗi mục tiêu. Một mối liên quan qua lại giữa dùng thuốc và ảnh hưởng lần tim là rất khó xác lập, chức năng tim thường bị suy yếu bởi thiếu máu, sốt và nhiễm trùng và xuất huyết, những triệu chứng mà suy tim thường kèm theo những bệnh này.

Ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon

Những sự thay đổi chức năng tim như giảm LVEF và suy tim có thể xảy ra ở những bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon điều trị bằng mitoxantron. Trong thử nghiệm so sánh ngẫu nhiên của miloxantron cộng với prednison liều thấp, 7 trong số 128 bệnh nhân (5,5%) điều trị bằng mitoxantron có tác dụng lên tim rõ như giảm LVEF dưới mức trung bình, sự suy tim sung huyết (n = 3) hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim. Hai bệnh nhân là có tiền sử bệnh tim.

Liều mitoxantron toàn phần chỉ định cho những bệnh nhân bị ảnh hưởng trên tim trong khoảng 48 – 212 mg/m2. Trong số 112 bệnh nhân đánh giá sự an toàn khi được sử dụng mitoxantron + hydrocortison trong thử nghiệm CALGB, 18 bệnh nhân (19%) giảm chức năng tim, 5 bệnh nhân (5%) thiếu máu tim cục bộ và 2 bệnh nhân (2%) có chứng phù phổi. Khoảng liều mitoxantron tổng cộng chỉ định cho những bệnh nhân này là không thích hợp.

ĐỀ PHÒNG

Nói chung

Điều trị bằng mitoxantron nên kèm theo giám sát máu thường xuyên và các trị số sinh hóa, cũng như theo dõi bệnh nhân thường xuyên

Nên điều trị nhiễm trùng hệ thống kèm theo trước khi bắt đầu điều trị bằng mitoxantron

Thông tin cho bệnh nhân.

Mitoxgen có thể làm biến màu nước tiểu thành màu lá cây – xanh da trởi trong 24 h sau khi dùng thuốc, và bệnh nhân nên được thông báo điều này trong quá trinh điều trị. Củng mạc mắt có mầu hơi xanh cũng có thể xảy ra. Bệnh nhân nên được biết về những dấu hiệu và triệu chứng của suy tủy xương.

Xét nghiệm cần thiết

Kiểm tra công thức máu toàn phần và chức năng gan là cần thiết để điều chỉnh liều. Khi điều trị bạch cầu cấp bằng mitoxantron, đái ra máu có thể xảy ra do sự giảm nhanh các tế bào khối u. Nồng độ acid uric trong huyết thanh nên được kiểm tra và liệu pháp điều trị làm giảm acid uric máu được tiến hành trước khi bắt đầu điều trị kháng bạch cầu.

Gây ung thư, đột biến và giảm khả năng sinh sản

Gây ung thư

Điều trị ở chuột cống và chuột nhất, 21 ngày 1 lần trong 24 tháng với mitoxantron kết quả làm tăng tỷ lệ mắc u xơ và những khối u ống thính giác ngoài ở chuột cống với liều 0,03 mg/kg (gấp 0,02 lần liều chỉ định ở người, dựa trên a mg/m2) và bắt đầu có khối u ở tế bào gan chuột ở liều 0,1 mg/kg (gấp 0.03 lần liều chỉ định ở người, dựa trên a mg/m2)

Đột biến

Mifoxantron sản sinh tác nhân gây đột biến trên in vivo (phân tích trong kỳ giữa của tuỷ xương chuột) và in viro (gây tổn hại DNA trong đoạn đầu túi mật chuột SCE ở tế bào CHO) và đột biến vi khuẩn (Ames/Salmonella và E.coli) và hệ thống thử nghiệm trân động vật có vú (L5178Y TK +/- bạch cầu chuột).

Khả năng sinh sản

Điều trị hàng ngày ở chuột cống đực (71 ngày trước giao phối, và trong thời kỳ giao phối, và đến khi hình thành bào thai ở chuột cái) và chuột công cái (15 ngày trước giao phối và trong thời gian giao phối) với mitoxantron tiêm truyền Tĩnh mạch với liều tới 0,03 mg/kg (gấp 0.02 lần liều điều trị ở người, dựa trên a mg/m2) không có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Sử dụng cho trẻ em

Độ an toàn và hiệu lực điều trị trên nhi khoa được biết đến.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Đã có báo cáo triệu chứng buồn ngủ và lẫn lộn khi dùng thuốc. Vì vậy, không lái xe hay vận hành máy móc khi sử dụng thuốc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Phụ nữ có thai Loại D

Mitoxantron có thể gây tổn hại bào thai khi chỉ định cho phụ nữ đang mang thai. Khi điều trị trên chuột cống ở liều = 0,1 mg/kg (gấp 0. 05 lần so với liều chỉ định ở người dựa trên a mg/m2). trọng lượng thai giảm và thận của thai chậm phát triển lớn hơn mức bình thường. Điều trị trên thỏ ở liều = 0,01 mg/kg (gấp 0.01 lần so với liểu điều trị ở người dựa trên a mg/m2) làm tăng tỷ lệ chết yểu sau khi sinh. Mitoxantron không gây quái thai ở thỏ. Chưa có nghiên cứu đầy đủ và kiểm tra rõ ràng ở phụ nữ có thai. Nếu thuốc này được dùng trong thời kỳ có thai, hoặc nếu bệnh nhân trở nên có thai khi đang dùng thuốc, bệnh nhân nên được báo về những nguy hiểm tiềm tàng đối với bào thai. Những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên tránh có thai khi đang dùng thuốc.

Mitoxantron ức chế Topoisomerase M, khi kết hợp với các tác nhân chống ung thư khác làm phát triển bệnh bạch cầu cấp.

Thời kỳ cho con bú:

Mitoxantron bài xuất qua sữa mẹ với nồng độ lớn (18ng/mL) đã được báo cáo cho 28 ngày sau khi dùng thuốc lần cuối.

Vì có những phản ứng nguy hiểm tiềm tàng cho trẻ bú mẹ, nên ngừng cho trẻ bú mẹ trước khi bắt đầu điều trị.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bệnh bạch cầu cấp

Mitoxantron đã được nghiên cứu xấp xỉ trên 600 bệnh nhân mắc ANLL. Bảng dưới đã trình bày phản ứng không mong muốn ở U.S. so với nghiên cứu của miloxantron + cytarabin với Daunorubicin + cytarabin. Thí nghiệm trên qui mô quốc tế cũng cho kết quả tương tự. Những thử nghiệm rộng rãi hơn về các kiểu khối u khác không có liên quan đến sự xuất hiện thêm các phản ứng dị ứng quan trọng khác hơn là bệnh tim. Danh mục các phản ứng không mong muốn bao gồm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến nhau và xảy ra trong cùng điều kiện. Ví dụ như khó thở, ho, viêm phổi. Thêm nữa, danh sách các phản ứng không mong muốn nhất thiết không thể qui tất cả cho là hoá trị liệu vì thường không thể phân biệt ảnh hưởng của thuốc và những ảnh hưởng của bệnh tật. Điều đó là rõ ràng, tuy nhiên, sự kết hợp mitoxantron + cytarabin gây ra phản ứng buồn nôn, nôn, rụng tóc, viêm tuyến nước bọt, viêm miệng và suy tủy xương. Những bảng sau tóm tắt các phản ứng không mong muốn xảy ra ở những bệnh nhân điều trị bằng mitoxantron + cytarabin so sánh với những bệnh nhân dùng daunorubicin + cytarabin trong điều trị ANLL trong thử nghiệm ở đa trung tâm lớn, ngẫu nhiên thử tại U.S. Các phản ứng không mong muốn được trình bày thành các mục chính và những ví dụ lựa chọn của danh mục phụ có ý nghĩa lâm sàng.

Nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon

Thông tin về độ an toàn chi tiết cho 353 bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon được điều trị với Mitoxantron, bao gồm 274 bệnh nhân được điều trị Mitoxantron kết hợp với corticosteroids. Bảng sau tóm tắt các phản ứng có hại của các độ xảy ra > 5% số bệnh nhân trong nghiên cứu thử nghiệm CCI-NOV22.

Các phản ứng có hại xảy ra với tần xuất 5% số bệnh nhân

Thử nghiệm CCI-NOV22

Không thấy các phản ứng độc tính ngoài máu độ 3⁄4 với tần xuất 5% số bệnh nhân

Bảng tiếp theo tóm tắt các phản ứng có hại của tất cả các độ xảy ra với tần xuất 5% số bệnh nhân trong thử nghiệm CALGB 9182.

Trường hợp chung

Phản ứng dị ứng: Hạ huyết áp, Mề đay, khó thở, phát ban đã được báo cáo thường xuyên

Da: Tràn máu ra ngoài mạch đã được báo cáo. hậu quả có thể gây ban đỏ. sưng đau. bỏng rát và/hoặc da biến thành máu xanh. Tràn máu có thể gây hậu quả hoại tử mô và dẫn tới phải cắt bỏ mô hoại tử và ghép da

Bệnh bạch cầu: Suy tủy xương xảy ra nhanh chóng trong giai đoạn đầu và thường giảm sản tuỷ xương dưới mức để đạt được phản ứng bạch cầu cấp tính. Tỷ lệ mắc phải nhiễm trùng và chảy máu quan sát thấy trong thí nghiệm ở U.S. gặp trong những báo cáo về chế độ sinh hoạt chuẩn khác

Ung thư tuyến tiền liệt kháng hormon: Trong nghiên cứu ngẫu nhiên, liều tăng dần được chỉ định khi bạch cầu trung tính tối thiểu lớn hơn 1000/mm3, sự giảm bạch cầu trung tính cấp 4 (ANC < 500/mm3) được quan sát ở 54 bệnh nhân được điều trị bằng mitoxaniron cộng với prednison liều thấp. Trong một thử nghiệm riêng biệt trên các bệnh nhân được điều trị với liều 14mg/m2, sự giảm bạch cầu cấp 4 trong 23% số bệnh nhân được điều trị mitoxantron cộng với hydrocortison, sốt, nhiễm trùng của bệnh giảm bạch cầu xảy ra 11% và 10% số bệnh nhân dùng mitoxantron + corticosteroid tương ứng với 2 thử nghiệm. Số lượng tiểu cầu < 50000/mm3 được ghi nhận ở 4% và 3% của những bệnh nhân dùng miloxantron + corticosteroid trên những thử nghiệm này, và 1 bệnh nhân chết khi dùng mitoxantron + hydrocortison bởi vì xuất huyết trong sọ sau khi ngã.

Hệ tiêu hoá: Nôn và buồn nôn xảy ra dữ dội ở hầu hết các bệnh nhân và có thể đóng góp vào báo cáo mất nước nhưng thông thường là nhẹ đến vừa và có thể khống chế thông qua sử dụng thuốc chống nôn. Sưng miệng và viêm niêm mạc thường xảy ra trong vòng 1 tuần điều trị.

Tim mạch: Suy tim sung huyết, tim đập nhanh, những thay đổi EKG bao gồm chứng loạn nhịp tim, đau ngực và giảm triệu chứng phân bố máu ở tâm thất trái. Đã có những công bố viêm kẽ nhu mô phổi ở những bệnh nhân ung thư kết hợp hoá trị liệu trong đó có mitoxantron.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Đối với bệnh nhân xuất hiện và tiến triển nhiễm khuấn, cần tiến hành xác định số lượng tế bào máu, bao gồm cả số lượng tiểu cầu. Không nên điều trị bằng mitoxantron cho bệnh nhân xơ cứng bì rải rác trong trường hợp số lượng bạch cầu trung tính dưới 1 500/mm3. Thường tiêm truyền mitoxantron từ 1 đến 4 giờ trong trường hợp cấy ghép tủy xương dùng liều cao.

Ngừng dùng thuốc trong trường hợp bệnh nhân có chỉ số phân suất tống máu thất trái (LVEF) dưới giới hạn cho phép thông thường hoặc giảm nghiêm trọng trên lâm sàng. Ngừng dùng liều điều trị cảm ứng thứ hai trong trường hợp bệnh nhân phát triển tình trạng nguy kịch, có nguy hiểm đến tính mạng, trong trường hợp nhiễm độc không liên quan đến máu. Chỉ dùng lại thuốc khi độc tính đã được xử lý.

Mức độ an toàn của thuốc trong bệnh nhân suy giảm chức năng gan chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bệnh nhân ung thư suy giảm chức năng gan có thể giảm liều điều trị, bệnh nhân điều trị xơ cứng bì rải rác suy giảm chức năng gan không nên điều trị bằng mitoxantron. Ngừng dùng thuốc trong trường hợp bệnh nhân có kết quả kiểm tra chức năng gan bất thường. Thường xuyên tiến hành kiểm tra chức năng gan trước mỗi liều mitoxantron.

Ngừng tiêm truyền ngay nếu xuất hiện ADR tại nơi tiêm (thuốc thoát ra khỏi mạch) như đau, nóng rát, ngứa, đỏ, sưng, đổi màu xanh, loét. Tiêm lại tại một mạch khác. Sự thoát mạch của thuốc có thể xảy ra trong quá trình tiêm truyền ngay cả khi máu vẫn quay trở lại mạch, có thể kèm theo đau nhức hoặc nóng rát. Nếu phát hiện hoặc nghi ngờ thoát mạch, chườm nước đá gián đoạn vùng da thuốc xâm nhập và vùng bị ảnh hưởng nặng nhất. Khu vực tiêm nên được kiểm tra thường xuyên, phòng nguy cơ xảy ra quá mẫn nơi tiêm. Nếu có dấu hiệu dị ứng cục bộ tiến triển, cần tiến hành tư vấn phẫu thuật sớm. Để giảm nguy cơ thoát mạch, dung dịch pha loãng mitoxantron hydroclorid được đưa chậm vào một đường truyền tĩnh mạch của dung dịch natri clorid 0,9% hoặc dextrose 5% trong tối thiểu 3 phút; và thường được truyền trong khoảng từ 15 – 30 phút. Đường ống tiêm truyền tĩnh mạch nên được gắn với kim bướm hoặc thiết bị khác phù hợp với việc đưa thuốc vào mạch máu lớn. Nếu có thể, nên tránh các mạch máu gần khớp, mạch máu gần khu vực tổn thương, gần mạch bạch huyết.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Nghiên cứu tương tác dược động học của mitoxantron khi dùng đồng thời với các thuốc khác chưa được thực hiện.

Tương tác của mitoxantron với hệ chuyển hóa P450 chưa được nghiên cứu.

Không có bằng chứng về tương tác thuốc – thuốc khi miloxantron được chỉ định dùng với corticosteroid.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho mitoxantron. Đã có báo cáo về phản ứng do quá liều. Bốn bệnh nhân dùng liều 140 – 180 mg/m2 đã chết do giảm bạch cầu hạt nặng và nhiễm trùng. Truyền máu và điều trị nhiễm trùng có thể được yêu cầu trong suốt giai đoạn kéo dài bị suy tuỷ xương.

Mặc dù dùng thuốc trên bệnh nhân suy thận nặng chưa được nghiên cứu, mitoxantron liên kết rộng với mô và chưa có kết quả nghiên cứu chắc chắn rằng tác động điều trị hoặc độc tính có thể giảm khi thẩm tách máu và màng bụng.

5.1. Dược lực học:

Mặc dù cơ chế tác dụng chưa được biết đầy đủ, Mitoxantron là tác nhân ức chế AND. Thuốc có tác dụng tiêu diệt tế cả tế bào nuôi cấy đang tăng sinh và không tăng sinh của người, do vậy làm thiếu pha đặc biệt trong chu trình phát triển của tế bào.

Miloxantron là một tác nhân DNA hoạt tính xen vào giữa deoxyribonucleic acid (DNA) thông qua liên kết hydro, tạo thành liên kết ngang và phá vỡ sợi. Mitoxantron cũng ảnh hưởng đấn acid ribonucleic (RNA) và là một chất ức chế mạnh của topoisomerase II một enzyme chịu trách nhiệm tháo cuộn và sửa chữa DNA bị hỏng.

Mitoxantron đã được chứng minh trong in viro ức chế tế bào B,T và đại thực bào người được nuôi cấy và làm giảm kháng nguyên cũng như sự tiết của gamma, TNFα va IL-2.

Cơ chế tác dụng:

Mặc dù cơ chế chính xác của mitoxantron chưa được xác định, mitoxantron được cho là can thiệp vào chức năng của topoisomerase II. Enzym topoisomerase liên kết với DNA qua các liên kết cộng hóa trị, hình thành phức hợp không bền enzym­DNA. Phức hợp này tham gia vào phản ứng làm thay đổi định khu DNA tạo điều kiện cho việc hình thành cấu trúc của sợi đơn và sợi kép DNA. Mitoxantron ổn định phức hợp enzym-DNA không bền, do đó ngăn cản quá trình gắn kết các sợi DNA.

Cơ chế khác của mitoxantron gây độc tế bào có thể là sự tích tụ và cố kết các sợi DNA thông qua các liên kết chéo tĩnh điện, hình thành các gốc tự do phá vỡ các sợi DNA, ức chế protein kinase C, gây cảm ứng sự chết tế bào theo chương trình của các tế bào ung thư.

Mitoxantron làm chậm sự tiến triển của chu kỳ tế bào phụ thuộc vào nồng độ và thời gian. Mặc dù thuốc không đặc hiệu cho chu kỳ tế bào nhưng rất độc với tế bào ở pha S muộn.

Sự kháng của khối u đối với mitoxantron có thể xảy ra do gia tăng P-glycoprotein, do thay đổi hàm lượng hoặc hoạt tính của topoisomerase II, tăng cơ chế sửa chữa DNA hoặc cơ chế khác. Sự kháng chéo không hoàn toàn với anthracyclin khác đã được chứng minh in vitro, nên bệnh nhân không đáp ứng với anthracyclin khác vẫn có thể có đáp ứng đối với mitoxantron trong một số trường hợp.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Dược động hoc của miloxantron ở những bệnh nhân dùng mitoxantron đơn lẻ khi liâm truyền tĩnh mạch có thể biểu thị bởi mô hình 3 pha. T1/2α của mitoxantron là 6 đến 12 phút, T1/2β là 1,1 – 3, 1h và T1⁄2 (kết thúc và thải trừ) là 23 – 215 giờ (trung bình xấp xỉ 75 giờ). Nghiên cứu dược động học chưa được tiến hành trên người dùng đa liều hàng ngày. Phân bố đến các mô là rất rộng: Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định > 1000 L/m2. Nổng độ thuốc trong mô vượt quá nồng độ thuốc trong máu trong suốt pha thải trừ cuối cùng. Ở khỉ, sự phân bố đến não, tuỷ sống, mắt, dịch tuỷ là chậm. Ở những bệnh nhân chỉ định mitoxantron với liều 15-90mg/ m2, có mối quan hệ tuyển tính giữa liều và diện tích dưới đường cong.

Mitoxantron liên kết 78% tới protein huyết lương trong vùng nồng độ khảo sát 26-455 ng/ml. Sự liên kết này là độc lập với nồng độ và không ảnh hưởng bởi sự có mặt của phenytoin, doxorubicin, methotrexat, prednison, prednisolon, heparin hoặc aspirin.

Chuyển hoá và thải trừ của miloxantron chưa được nghiên cứu rõ, 11% hoặc Ít hơn mitoxantron được tái hấp thu qua nước tiểu. và 25% hoặc ít hơn được tái hấp thu qua phân, trong 5 ngày sau khi dùng thuốc. Các chất được tái hấp thu qua nước tiểu bao gồm 65% thuốc dưới dạng không chuyển hóa và 35% còn lại bao gồm các chất mono và dicarboxylic acid và liên hợp với gluconid của chúng. Sự chuyển hoá các acid carboxylic này tác động lại DNA, tuy nhiên con đường hình thành chúng chưa được biết đến.

Nhóm người đặc biệt

Giới tính: Ảnh hưởng của giới tính lên tính chất dược động học chưa được biết đến.

Người cao tuổi: Dược động học trên người già chưa được biết đến.

Nhi khoa: Dược động học trên trẻ em chưa được biết đến.

Chủng tộc: Ảnh hưởng của chủng tộc người lên tính chất dược động học của Mitoxantron chưa được biết đến.

Suy thận: Dược động học của Mitoxantron trên bệnh nhân suy thận chưa được biết đến.

Suy gan: Độ thanh thải của Mitoxantron giảm ở những bệnh nhân suy gan. Bệnh nhân suy giảm chức năng gan năng (bilirubin > 3,4 mg/dl) có AUC lớn gấp 3 lần bệnh nhân có chức năng gan bình thường khi dùng cùng liều. Với bệnh nhân suy gan, hiện tại không có cách tính toán cho phép hướng dẫn hiệu chỉnh liều.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Bacsithongthai.vn chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Bacsithongthai.vn

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Natri clorid, natri acetat và acetic acid, nước cất pha tiêm (Dung dịch chứa 0,14 mEq Natri/mL).

6.2. Tương kỵ :

Không nên phối hợp, trộn đồng thời mitoxantron với heparin vì có khả năng tạo kết tủa. Mặt khác, vì các dữ liệu nghiên cứu cụ thể về tương kỵ chưa đầy đủ, nhà sản xuất khuyến cáo mitoxantron hydroclorid không nên trộn để tiêm truyền đồng thời với bất kỳ thuốc nào khác.

6.3. Bảo quản:

Dung dịch đậm đặc mitoxantron hydroclorid bảo quản dưới 30oC, không để đông lạnh.

6.4. Thông tin khác :

TÍNH CHẤT

Mã ATC: L01DB07

Mitoxgen (Mitoxantron hydroclorid) là thuốc chống ung thư bán tổng hợp từ nhân anthracenedion chỉ dùng cho tiêm tĩnh mạch.

Thuốc được pha chế ở dạng dung dịch và phải pha loãng trước khi sử dụng.

Tính chất: Dung dịch vô trùng, màu xanh. không có chí nhiệt tố, pH 3.0-4,5. Sản phẩm không có chất bảo quản.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

 

Viết một bình luận