Thuốc Repaglinide – Repaglinide tablets

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (Chưa có đánh giá)
Loading...

Thuốc Repaglinide 1mg tablets là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Repaglinide 1mg tablets (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Repaglinide

Phân loại: Thuốc điều trị tiểu đường. Nhóm Meglitinides

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10BX02.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Repaglinide 1mg tablets

Hãng sản xuất : Jubilant Life Sciences Limited – Ấn Độ

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén: 1 mg.

Thuốc tham khảo:

REPAGLINIDE TABLETS 1MG
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Repaglinide………………………….1 mg
Tá dược………………………….vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video :

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Repaglinide được chỉ định cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 (Tiểu đường không phụ thuộc insulin) khi chế độ ăn, giảm cân, luyện tập không kiểm soát được lượng đường trong máu. Repaglinide cũng được chỉ định phối hợp với metformin cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 khi dùng metformin đơn độc không kiểm soát được đường huyết.

Việc điều trị nên được bắt đầu như là một biện pháp hỗ trợ cho chế độ ăn uống và tập thể dục để giảm đường huyết liên quan đến bữa ăn.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Repaglinide được dùng trước bữa ăn và được xác định liều riêng cho từng bệnh nhân để tối ưu hóa việc kiểm soát đường huyết. Ngoài ra thường xuyên tự kiểm tra lượng glucose trong máu và trong nước tiểu của bệnh nhân, đường huyết của bệnh nhân phải được thầy thuốc định kì kiểm tra để xác định liều tối thiểu có hiệu quả cho bệnh nhân. Mức hemoglobin glycosyl hóa cũng có giá trị để kiểm tra đáp ứng của bệnh nhân đối với việc điều trị. Cần phải định kỳ kiểm tra đường huyết để phát hiện hạ đường huyết không đây đủ khi dùng liều khuyến cáo tối đa (tức là thất bại ban đầu) và phát hiện mất đáp ứng hạ đường huyết đầy đủ khi sau một thời gian ban đầu có hiệu quả (tức là thất bại thứ cấp).

Dùng repaglinide trong thời gian ngắn có thể là đủ trong thời kì tạm thời mất kiểm soát ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 thường kiểm soát tốt bằng chế độ ăn kiêng.

Repaglinide nên được uống trước bữa ăn chính (tức là trước bữa ăn).

Liều dùng:

Thuốc nên được dùng trong vòng 15 phút của bữa ăn nhưng thời gian có thể thay đổi từ ngay trước bữa ăn đến 30 phút trước bữa ăn (tức là ngay trước 2,3 hoặc 4 bữa ăn một ngày). Bệnh nhân bỏ bữa (hoặc thêm bữa) thì cần phải chỉ định cho bỏ (hoặc thêm) một liều thuốc cho bữa ăn đó.

Liều khởi đầu:

Liều dùng nên theo chỉ dẫn của thầy thuốc tùy thuộc theo nhu cầu của từng bệnh nhân.

Liều khuyến cáo ban đầu là 0,5 mg, sau 1 đến 2 tuần xác định lại liều (bằng cách định lượng đường trong máu).

Nếu bệnh nhân chuyển sang điều trị bằng repaglinide từ một thuốc chống tiểu đường dùng đường uống khác thì liều khuyến cáo ban đầu là 1 mg.

Liều duy trì

Liều đơn tối đa được khuyến cáo là 4 mg dùng cùng với bữa ăn.

Tổng liều hàng ngày không được vượt quá 16 mg.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Repaglinide chủ yếu được thải trừ qua mật, do đó việc thải trừ không bị ảnh hưởng bởi rối loạn chức năng thận. 8% liều dùng Repaglinide được thải trừ qua thận và độ thanh thải toàn phần ra khỏi huyết tương của thuốc bị giảm ở bệnh nhân suy thận. Do độ nhạy cảm của insulin tăng lên ở bệnh nhân tiểu đường có suy thận. Cần thận trọng khi xác định liều cho những bệnh nhân này.

Chưa có thử nghiệm lâm sàng được tiền hành ở bệnh nhân trên 75 tuổi hoặc bệnh nhân suy gan.

Không nên dùng Repaglinide cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì chưa đủ tài liệu nghiên cứu về độ an toàn và hiệu lực của thuốc.

Ở bệnh nhân suy nhược hoặc bị suy dinh dưỡng, liều ban đầu và liều duy trì nên để ở mức vừa phải và phải xác định liều một cách thận trọng để tránh phản ứng hạ đường huyết.

Bệnh nhân đang dùng các thuốc hạ đường huyết đường uống khác.

Bệnh nhân có thể chuyển ngay sang dùng repaglinide từ một thuốc hạ đường huyết dùng đường uống khác. Nhưng không có mối liên hệ chính xác giữa liều dùng repaglinide và thuốc hạ đường huyết đường uống khác. Liều khuyến cáo ban đầu tối đa cho bệnh nhân chuyển sang dùng repaglinide là 1 mg uống trước bữa ăn.

Repaglinide có thể được dùng kết hợp với metformin, khi metformin dùng một mình không đủ để kiểm soát đường huyết. Trong trường hợp này, vẫn duy trì liều dùng metformin và dùng kèm theo repaglinide. Liều khởi đầu của repaglinide là 0,5 mg, dùng trước bữa ăn, xác định liều dựa theo đáp ứng của đường huyết giống như liệu pháp điều trị đơn độc.

4.3. Chống chỉ định:

Dị ứng với repaglinide hoặc bất thành phần nào của thuốc.

Tiểu đường tuýp I (tiểu đường phụ thuộc insulin), C – peptide âm tính.

Tiểu đường nhiễm toan có hoặc không có hôn mê.

Rối loạn chức năng gan nặng.

Dùng đồng thời với gemfibrozil

4.4 Thận trọng:

Cảnh báo chung:

Repaglinide chỉ nên được chỉ định khi đã nỗ lực tập thể dục, ăn kiêng và giảm cân nhưng vẫn không kiểm soát được đường huyết và các triệu chứng của bệnh tiểu đường vẫn tồn tại.

Repaglinide cũng như các chất kích thích bài tiết insulin khác, có khả năng gây hạ đường huyết

Tác dụng hạ đường huyết của các thuốc chống tiểu đường dùng đường uống giảm dần theo thời gian ở nhiều bệnh nhân. Điều này có thể là do sự tiến triển của bệnh tiểu đường nặng lên hoặc do cơ thể giảm đáp ứng với thuốc. Hiện tượng này được gọi là thất bại thứ cấp, để phân biệt với thất bại ban đầu, khi mà thuốc không có hiệu quả trên một bệnh nhân riêng lẻ sau liều dùng đầu tiên.

Nên quyết định điều chỉnh liều và tuân thủ chế độ ăn kiêng và tập thể dục trước khi phân loại bệnh nhân vào nhóm thất bại thứ cấp.

Điều trị kết hợp với metformin có liên quan tới tăng nguy cơ hạ đường huyết.

Khi một bệnh nhân đã ồn định với bất kỳ thuốc hạ đường huyết dùng đường, uống mà gặp căng thăng như sốt, nhiễm trùng, chấn thương hoặc phẫu thuật, có thể xảy ra mất kiểm soát đường huyết. Vào những lúc này, có thể ngừng dùng repaglinide và điều trị tạm thời bằng insulin.

Việc sử dụng của repaglinide có thể liên quan tới tăng tỉ lệ mắc hội chứng mạch vành cấp tính (ví dụ như nhồi máu cơ tim).

Điều trị kết hợp.

Nên dùng thận trọng hoặc tránh dùng repaglinide cho bệnh nhân đang dùng những thuốc ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá repaglinide. Nếu cần phải sử dụng kết hợp, cần phải kiểm tra chặt chẽ lượng đường trong máu và biểu hiện lâm sàng.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt

Chưa có thử nghiệm lâm sàng được khảo sát trên bệnh nhân suy giảm chức năng gan. Chưa có thử nghiệm lâm sàng được tiễn hành ở trẻ em và thiếu niên < 18 tuổi hoặc bệnh nhân > 75 tuổi. Do đó, không nên dùng thuốc cho nhóm bệnh nhân này.

Nên xác định liều cần thận cho bệnh nhân bị suy nhược hoặc bị suy dinh dưỡng. Liều ban đầu và liều duy trì nên để ở mức vừa phải.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có báo cáo

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có nghiên cứu sử dụng repaglinide ở phụ nữ mang thai và cho con bú. Do đó, độ an toàn của repaglinide đối với phụ nữ có thai chưa được đánh giá. Cho tới nay, repaglinide chưa gây quái thai ở động vật thí nghiệm. Phôi, chi phat triển bất thường ở bào thai và chuột con mới sinh đã được quan sát thấy ở chuột dùng thuốc liều cao trong giai đoạn cuối của thai kì và trong thời kì cho con bú.

Thời kỳ cho con bú

Repaglinide được phát hiện thấy trong sữa của động vật thí nghiệm. Vì lý do này, nên tránh dùng repaglinide trong suốt thai kỳ và không nên dùng cho phụ nữ đang cho con bú

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Dựa trên kinh nghiệm dùng repaglinide và các thuốc hạ đường huyết khác, các tác dụng không mong muốn sau đã được quan sát thấy: mức độ thường xuyên được xác định như sau:

Thường gặp (> 1/100 – <1/10), ít gặp (> 1/1.000 – <1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 – <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000), chưa được biết (không thể đánh giá được từ các dữ liệu có được).

Rối loạn hê miễn dịch

Rất hiếm gặp: dị ứng

Các phản ứng dị ứng phố biến (như phản ứng quá mẫn), hoặc phản ứng tự miễn như viêm mạch.

Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng

Thường gặp: hạ đường huyết

Chưa được biết: hôn mê, bất tỉnh do hạ đường huyết.

Giống như các tác nhân hạ đường huyết khác, phản ứng hạ đường huyết được quan sát thấy sau khi dùng repaglinide. Những phản ứng này thường nhẹ và dễ dàng xử lý được bằng cách dùng carbohydrate. Nếu trường hợp nặng, cần có sự hỗ trợ của bên thứ 3, có thể cần phải truyền glucose.

Sự xuất hiện của các phản ứng này, cũng như đối với tất cả các thuốc điều trị bệnh tiểu đường, phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân, chẳng hạn như thói quen ăn uống, liều lượng, tập thể dục và tình trạng căng thăng. Tương tác với các thuốc khác có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết. Kinh nghiệm từ quá trình lưu hành thuốc, các trường hợp hạ đường huyết đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị kết hợp giữa repaglinide với metformin hoặc thiazolidinedione.

Rối loạn tiêu hoá

Thường gặp: nôn và táo bón

Chưa được biết: buồn nôn

Bệnh về đường tiêu hoá như đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn và táo bón đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng này không khác với các chất gây tăng bài tiết insulin dùng đường uống khác.

Rối loạn da và mô dưới da

Chưa được biết: Mẫn cảm

Phản ứng quá mẫn trên da có thể xuất hiên như ban đỏ, ngứa, phát ban và nổi mề đay. Không có lý do để nghi ngờ có dị ứng chéo với các thuốc sulphonylurea do có sự khác biệt của cấu trúc hóa học.

Rối loạn về mắt

Rất hiếm gặp: rối loạn thị giác

Thay đổi lượng đường trong máu đã được biết là gây rối loạn thị giác thoáng qua, đặc biệt là lúc bắt đầu điều trị. Rất ít các trường hợp sau khi bắt đầu điều trị với repaglinide được báo cáo gặp rối loạn này. Trong các thử nghiệm lâm sàng, không có trường hợp như vậy mà phải ngừng điều trị repaglinide

Rối loạn tim mach

Hiếm gặp: Bệnh về tim mạch

Bệnh tiểu đường tuýp 2 có liên quan tới tăng nguy cơ cho bệnh tim mạch. Trong một nghiên cứu dịch tế học, nháom dùng repaglinide được báo cáo là có tỷ lệ cao hơn của hội chứng mạch vành cấp. Tuy nhiên, các nguyên nhân liên quan vẫn còn chưa chắc chắn.

Rối loạn gan mật

Rất hiếm gặp: rối loạn chức năng gan

Rất hiếm các trường hợp có rối loạn chức năng gan nặng đã được báo cáo.Tuy nhiên, nguyên nhân liên quan đến repaglinide chưa được công bố.

Rất hiếm gặp: tăng men gan

Cá biệt có trường hợp tăng men gan đã được báo cáo trong quá trình điều trị với repaglinide. Hầu hết các trường hợp này thường nhẹ và thoáng qua, và rất ít bệnh nhân phải ngừng điều trị do tăng men gan.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Các tai biến trên (trừ tụt glucose huyết) thường xảy ra trong giai đoạn đầu khi thăm dò liều và thường giảm, rồi mất đi trong quá trình điều trị. Trường hợp nặng, phải ngừng thuốc.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Một số thuốc có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của repaglinid. Do đó, cần lưu ý một số thận trọng có thể xảy ra.

Dữ liệu in vitro cho thấy repaglinid được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C8, nhưng cũng được chuyển hóa bởi CY3A4. Dữ liệu lâm sàng trên người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy CYP2C8 là enzym quan trọng nhất trong chuyển hóa repaglinid cùng với một phần nhỏ bởi CYP3A4, phần này có thể tăng lên nếu CYP2C8 bị ức chế. Vì vậy, sự chuyển hóa, và do đó thanh thải của repaglinid, có thể bị thay đổi bởi các chất ảnh hưởng đến những enzym cytochrom P-450 này thông qua sự ức chế hoặc cảm ứng. Đặc biệt thận trọng khi dùng đồng thời các chất ức chế cả CYP2C8 và 3A4 với repaglinid.

Dựa trên dữ liệu in vitro, repaglinid là một cơ chất cho sự hấp thu chủ động tại gan (protein vận chuyển anion hữu cơ OATP1B1). Các chất ức chế OATP1B1 cũng có thể làm tăng nồng độ huyết tương của repaglinid, như ciclosporin.

Các chất sau có thể làm tăng và/ hoặc kéo dài tác dụng hạ glucose huyết của repaglinid: Gemfibrozil, clarithromycin, itraconazol, ketokonazol, trimethoprim, ciclosporin, deferasirox, clopidogrel, các thuốc điều trị đái tháo đường khác, các thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI), các thuốc chẹn beta không chọn lọc, các thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin (ACE), salicylat, NSAIDs, octreotid, alcohol, và các steroid đồng hóa.

Dùng đồng thời gemfibrozil (600 mg X 2 lần/ ngày), một thuốc ức chế CYP2C8, và repaglinid (liều đơn 0,25 mg) ở người tình nguyện khỏe mạnh làm tăng AUC và Cmax của repaglinid lần lượt gấp 8,1 lần và 2,4 lần. Thời gian bán thải kéo dài từ 1,3 giờ đến 3,7 giờ, có thể làm tăng và kéo dài tác dụng hạ glucose huyết của repaglinid, và nồng độ repaglinid huyết tương lúc 7 giờ tăng gấp 28,6 lần do gemfibrozil. Chống chi định dùng đồng thời gemfibrozil và repaglinid.

Dùng đồng thời trimethoprim (160 mg X 2 lần/ ngày), một thuốc ức chế trung bình CYP2C8, với repaglinid (liều đơn 0,25 mg) làm tăng AUC, Cmax và t1/2(tương ứng là 1,6 lần, 1,4 lần và 1,2 lần) và không ảnh hưởng đáng kể đến mức glucose huyết. Đã có báo cáo thiếu tác dụng dược lực ở dưới liều điều trị 0,25 mg repaglinid. Do thông tin an toàn của phối hợp này chưa được chứng minh với liều trên 0,25 mg repaglinid và 320 mg trimethoprim, tránh dùng đồng thời trimethoprim với repaglinid. Neu việc sử dụng đồng thời là cần thiết, theo dõi cẩn thận glucose huyết và theo dõi lâm sàng chặt chẽ.

Rifampicin, một thuốc cảm ứng mạnh CYP3A4 và cả CYP2C8, vừa cảm ứng vừa ức chế chuyển hóa repaglinid. Điều trị trước 7 ngày với rifampicin (600 mg), sau đó dùng đồng thời repaglinid (liều đơn 4 mg) vào ngày thứ 7 làm giảm AUC 50% (phối hợp tác dụng cảm ứng và ức chế). Khi dùng repaglinid vào 24 giờ sau khi dùng liều rifampicin cuôi cùng, AUC repaglinid giảm 80% (chỉ có tác dụng cảm ứng). Do đó, khi dùng đông thời rifampicin và repaglinid có thể cân chỉnh liều repaglinid dựa trên nông độ glucose huyết được theo dõi chặt chẽ cả khi khởi đầu điều trị với rifampicin (ức chế cấp), sau khi dùng thuốc (cả ức chế và cảm ứng), ngưng thuốc (chỉ có tác dụng cảm ứng) và đến khoảng 2 tuần sau khi ngưng rifampicin, khi mà không còn tác dụng cảm ứng của rifampicin nữa. Không thể loại trừ các thuốc cảm ứng khác, như phenytoin, carbamazepin, phenobarbital, cỏ St. John, có thể có tác dụng tương tự.

Ảnh hưởng của ketoconazol, một thuốc ức chế cạnh tranh và mạnh CYP3A4, trên dược động học của repaglinid đã được nghiên cứu ở người khỏe manh. Dùng đồng thời 200 mg ketoconazol làm tăng repaglinid (AUC và Cmax) gấp 1,2 lần với nồng độ glucose huyết thấp hơn 8% (liều đơn 4 mg repaglinid). Dùng đông thời 100 mg itraconazol, một thuốc ức chế CYP3A4, cũng đã được nghiên cứu ở người tình nguyện khỏe mạnh, làm tăng AUC gấp 1,4 lần. Không có ảnh hưởng đáng kể nào đối với mức glucose huyết ở người tình nguyện khỏe mạnh. Trong một nghiên cứu tương tác thuốc ở người tình nguyện khỏe mạnh, dùng đồng thời 250 mg Clarithromycin, một thuốc ức chế mạnh CYP3A4, làm tăng nhẹ repaglinid (AUC) 1,4 lần và Cmax 1,7 lần, tăng AUC trung bình của insulin huyết thanh 1,5 lần và nồng độ tối đa 1,6 lần. Cơ chế chính xác của tương tác này chưa rõ.

Trong một nghiên cứu được thực hiện ở người tình nguyện khỏe mạnh, dùng đồng thời repaglinid (liều đơn 0,25 mg) và Ciclosporin (liều lặp lại 100 mg) làm tăng AUC và Cmax repaglinid tương ứng khoảng 2,5 lần và 1,8 lần. Do tương tác chưa được chứng minh với liều trên 0,25 mg repaglinid, tránh dùng đồng thời Ciclosporin với repaglinid. Nếu việc dùng phối hợp là cần thiết, theo dõi cẩn thận lâm sàng và glucose huyết.

Một nghiên cứu tương tác thuốc ở người tình nguyện khỏe mạnh, dùng đồng thời deferasirox (30 mg/ kg/ ngày, 4 ngày), một chất ức chế trung bình CYP2C8 và CYP3A4, và repaglinid (liều đơn, 0,5 mg) làm tăng AUC repaglinid 2,3 lần (90% C1 [2,03 – 2,63]), tăng Cmax lên 1,6 lần (90% C1 [1,42 – 1,84]), và giảm nhẹ, đáng kể giá trị glucose huyết. Vì tương tác này chưa được chứng minh với liều cao hơn 0,5 mg, tránh dùng đồng thời deferasirox với repaglinid. Nếu cần thiết dùng phối hợp, theo dõi cẩn thận lâm sàng và glucose huyết.

Trong một nghiên cứu tương tác thuốc trên người tình nguyện khỏe mạnh, dùng đồng thời Clopidogrel (300 mg, liều tấn công), một thuốc ức chế CYP2C8, làm repaglinid tăng AUC0-∞ 5,1 lần và khi dùng liên tục (75 mg/ ngày) làm repaglinid tăng AUC0-∞ 3,9 lần. Giá trị glucose huyết giảm nhẹ, đáng kể. Do thông tin an toàn của điều trị đồng thời chưa được chứng minh ở những bệnh nhân này, tránh dùng đông thời Clopidogrel và repaglinid. Nêu cần thiết dùng phối hợp, theo dõi cẩn thận glucose huyết và theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng. Các thuốc chẹn beta có thể che lấp các triệu chứng hạ glucose huyết.

Dùng đồng thời Cimetidin, nifedipin, estrogen hoặc simvastatin với repaglinid, tất cả cơ chất của CYP3A4, không làm thay đổi đáng kể các thông số dược động học của repaglinid. Repaglinid không gây ảnh hưởng lâm sàng đến dược động học của digoxin, theophylin hoặc warfarin ở trạng thái ổn định khi sử dụng trên người tình nguyện khỏe mạnh. Do đó, không cần chỉnh liều các thuốc này khi dùng đồng thời repaglinid.

Các chất sau có thể làm giảm tác dụng hạ glucose huyết của repaglinid: Thuốc tránh thai đường uống, rifampicin, các barbiturat, Carbamazepin, các thiazid, các corticosteroid, danazol, hormon tuyến giáp và các thuốc ức chế giao cảm.

Khi những thuốc này được dùng hoặc ngưng sử dụng ở những bệnh nhân đang dùng repaglinid, cần theo dõi chặt chẽ những thay đổi trên kiểm soát glucose huyết.

Khi repaglinide được sử dụng cùng với các thuốc mà những thuốc này được thải trừ chủ yếu qua mật như repaglinid, cần cân nhắc các tương tác có thể xảy ra.

4.9 Quá liều và xử trí:

Repaglinide đã được dùng với liều tăng dần hàng tuần từ 4 – 20 mg bốn lần một ngày trong khoảng thời gian 6 tuần. Không có mối quan tâm an toàn được nâng lên. Do hạ đường huyết trong nghiên cứu này đã được ngăn chặn bằng cách tăng lượng calo ăn vào, quá liều có thể gây hạ đường huyết quá mức, tăng các triệu chứng hạ đường huyết (chóng mặt, vã mồ hôi, run, đau đầu …). Nếu xảy ra những triệu chứng này, nên dùng các chất thích hợp để điều chỉnh tình trạng đường huyết thấp (như uống carbohydrate). Trường hợp hạ đường huyết nặng hơn có kèm cơn động kinh, mất ý thức hoặc hôn mê nên dùng glucose IV.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Phân nhóm dược lý: Dẫn xuất của Carbamoylmethyl benzoic acid.

Mã ATC: A10BX02

Repaglinide là một chất kích thích tăng tiết Insulin đường uống có tác dụng ngắn. Repaglinide làm giảm nhanh nồng độ glucose trong máu băng cách kích thích giải phóng insulin từ tuyến tụy, một tác động phụ thuộc vào chức năng tế bào của tuyến tụy.

Repaglinide đóng các kênh kali phụ thuộc ATP ở màng tế bào β thông qua một protein đích không giống các chất tăng tiết khác. Sự khử cực tế bào làm các kênh canxi mở ra. Kết quả làm canxi xâm nhập vào trong tế bảo làm cho các tế bào β tiét insulin.

Ở những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, đáp ứng của insulin tới bữa ăn xảy ra trong vòng 30 phút sau khi uống một liều repaglinide. Vì thế tác dụng giảm nồng độ glucose trong máu được duy trì suốt bữa ăn. Mức insulin tăng cao không tồn tại kéo dài sau bữa ăn. Nồng độ repaglinide trong huyết tương giảm nhanh chóng và nồng độ thuốc trong huyết tương của bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 sau khi dùng 4 giờ thấp.

Liều dùng của thuốc phụ thuộc vào mức giảm glucose trong máu đã được chứng minh ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 khi dùng repaglinide với liều 0,5 – 4 mg.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy repaglinide được tối ưu hóa liều dùng có liên quan đến bữa ăn chính (liều dùng trước bữa ăn).

Liều thuốc thường được dùng trong vòng 15 phút của bữa ăn, nhưng thời gian có thể thay đổi từ ngay trước bữa ăn đến 30 phút trước bữa ăn.

Một nghiên cứu dịch tễ học đưa ra giả thuyết rằng nguy cơ của hội chứng mạch vành cấp tính ở bệnh nhân điều trị bằng repaglinide tăng so với bệnh nhân điều trị bằng sulfonylurea.

Cơ chế tác dụng:

Repaglinid làm giảm mức glucose huyết cấp thời bằng cách kích thích sự phóng thích insulin từ tụy, hiệu quả này phụ thuộc vào hoạt động của tế bào β trong tiểu đảo tụy.

Repaglinid làm đóng các kênh kali phụ thuộc ATP trên màng tế bào β thông qua 1 loại protein đích khác với các tác nhân kích thích tiết insulin khác.

Tác động này làm khử cực tế bào β và dẫn đến việc mở kênh calcium, kết quả làm tăng dòng calcium vào tế bào. Điều này gây ra sự tiết insulin từ tế bào β.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Repaglinide được hấp thu nhanh ở đường tiêu hóa, làm cho nồng thuốc trong huyết tương tăng nhanh. Nồng độ đỉnh huyết tương xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi dùng. Sau khi đạt đỉnh, nồng độ repaglinide trong huyết tương giảm nhanh chóng và thuốc được thải trừ trong vòng 4 – 6 giờ.

Thời gian bán thải của thuốc khoảng 1 giờ.

Dược động học của Repaglinide được đặc trưng bởi sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 63% (CV 11%), thể tích phân bố thấp 30 L (là do thuốc phân bố vào dịch lỏng trong tế bào) và sự thải trừ nhanh khỏi máu.

Sự biến đổi nồng độ nồng độ repaglinide trong huyết tương ở các cá thể cao đã được phát hiện trong các thử nghiệm lâm sang. Sự biến đổi ở các các thể từ thấp đến trung bình (35%) và do đó nên xác định lại đáp ứng lâm sàng của repaglinide, hiệu quả không bị ảnh hưởng bởi sự biến đổi của các cá thể.

Tồn lưu repaglinide tăng lên ở những bệnh nhân suy gan và bệnh nhân cao tuổi mắc tiểu đường tuyp 2. AUC (SD) sau khi dùng liều duy nhất 2 mg (4 mg ở bệnh nhân suy gan) là 31,4 ng / ml x (28,3) giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh, là 304,9 ng / ml x (228,0) giờ ở bệnh nhân suy gan, và 117,9 ng / ml x (83,8) giờ ở bệnh nhân cao tuổi mắc tiểu đường tuýp 2.

Sau 5 ngày điều trị bằng repaglinide (2 mg x 3 lần/ ngày) ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng (độ thanh thải creatinin 20 – 39 ml/phút), kết quả cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) và thời gian bán thải tăng lên 2 lần so với người có chức năng thận bình thường.

Repaglinide liên kết rất mạnh với protein huyết tương ở người (trên 98%).

Không có sự khác biệt lâm sàng đáng kể về dược động học của repaglinide được quan sát thấy khi repaglinide được dùng tại thời điểm 0 phút, 15 phút hoặc 30 phút trước bữa ăn hoặc khi đói.

Repaglinide được chuyển hóa gần như hoàn toàn và không có chất chuyển hóa có tác dụng hạ đường huyết đáng kể trên lâm sàng được tìm thấy.

Repaglinide và các chất chuyển hóa của nó được thải trừ chủ yếu qua mật. Một phần nhỏ (dưới 8%) của liều dùng xuất hiện trong nước tiêu chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa. Dưới 1 % chất mẹ được tìm thấy trong phân.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Bacsithongthai.vn chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Bacsithongthai.vn

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

 

Viết một bình luận